Tiếp nhận niềm vui, cảm nhận nỗi lo...

Tường trình chuyến công tác Cambodia cuối năm 2016

Nguyễn Công Bằng (VDF)

Sau hơn một năm dành thời giờ cho hạnh nguyện Xuất gia Gieo duyên và phải khoán trắng việc chăm sóc các chương trình trợ giúp giáo dục của ViDan Foundation (VDF) ở Xứ Chùa Tháp cho nhà văn Tưởng Năng Tiến, tôi đã trở lại Cambodia. Lần này do còn trong thời gian tu học nên phải mặc Y Cà-sa và được gọi bằng Pháp danh Minh Trí.

Bên cạnh việc theo dõi hiện tình chương trình trợ giúp ở ba tỉnh Prey Veng, Kampong Chhnang và Pursat, Hiệp Hội đã phát 2.600kg gạo cho bà con nghèo ở khu vực trường Samaki, 562 phần quà (tập vở, bút mực, bánh kẹo) cho học sinh, và cứu tế một số gia đình có hoàn cảnh khó khăn đến mức thương tâm.

Như mỗi lần thăm viếng trước đây, mỗi lần đi là mỗi lần tiếp nhận bao niềm vui và cảm nhận lắm nỗi lo.

Khởi đầu từ Nam Vang, tháp tùng đoàn là hai thành viên hội MIRO (Moniroty Rights Organisation) do ông Sourn Butmao hướng dẫn, và bạn trẻ Yeak Li – một người Khmer gốc Việt rất nhiệt tình.

Chặng thứ nhất: TỈNH PREY VENG

Đoàn ghé chặng đầu tiên ở khu vực Neak Loeung. Tại đây, Hội đã phát tập vở, bánh kẹo cho học sinh ở ba trường Ấp Sáu, Bãi Cát và Cầu Đúc.

Thăm một số học sinh các lớp Việt ngữ do VDF bảo trợ ở Neak Leoung

Trong dịp này, thầy giáo Lê Văn Hiển đã thay mặt gia đình các em học sinh nghèo trân trọng gửi lời tri ân lần nữa đến các mạnh thường quân của Hiệp Hội, đặc biệt là sự trợ giúp ngân khoản xây dựng lại ngôi trường vào đầu năm 2015, và liên tục bảo trợ cho gần 300 trẻ nghèo tại đây được đi học tiếng Việt miễn phí từ năm 2014.

Sau khi thăm các lớp học ở ba địa điểm, chúng tôi đến thăm viếng và tiếp trợ hai gia đình có người thân đang bị bệnh tật nghiêm trọng. Ngân khoản chia sẻ không lớn song đối với những đồng bào đang ở trong hoàn cảnh khó khăn tột độ, đó là một nguồn an ủi tinh thần đáng kể.

Chặng thứ hai TỈNH KAMPONG CHHNANG

Từ năm 2014, ViDan Foundation yểm trợ giáo dục cho 120 em học sinh nghèo ở trường Samaki, nằm bên bờ một dòng sông lớn phía cực Nam của Biển Hồ.

Thăm một số học sinh các lớp Khmer & Việt ngữ ở Kampong Chhnang

Trước khi bị chính quyền bản xứ buộc phải dời khỏi khu vực quen thuộc gần chợ, vốn chỉ cần chèo xuồng là có thể đến trường một cách nhanh chóng, dễ dàng. Mùa khô thì chèo đến bờ đất các trường vài chục mét. Mùa nước lên thì chéo thẳng đến chân cầu thang của trường (mặt nước mùa nước nổi cao hơn mùa khô khoảng 5-7 mét). Từ khi mấy trăm gia đình người Việt ở đây bị buộc phải dời đến khu vực mới, cách xa trường đến mấy cây số, nhiều em học sinh đã bỏ học vì không thể tự đến trường nữa (cha mẹ thì phải đi bắt cá mua gạo nuôi gia đình, mà các em thì không thể tự bơi xuồng đi học quá xa được).

Lần này, với sự bảo trợ của Bs. Kenneth Nguyen và một số tu sĩ, thân hữu, Hiệp Hội đã có được điều kiện phát gạo từ thiện cho 173 gia đình nghèo trong khu vực, mỗi gia đình 15kg (tổng cộng 2.6 tấn gạo dài).

Thăm hỏi và phát 2.600 kg gạo từ thiện cho 173 gia đình ở Kampong Chhnang

Bao gạo 15kg có lẽ không là một thứ gì đáng chú ý cho các gia đình người Việt ở nước ngoài song đối với nhiều gia đình người Việt đang lưu thân lạc xứ nghèo khó này, đây là số gạo lớn, vì có không ít gia đình vẫn còn lâm cảnh “đi làm hôm nay mua gạo cho ngày mai”. Đây là lần phát gạo thứ ba từ năm 2013 của ViDan Foundation.

Tại trường Samaki, VDF đã thăm viếng và phát bánh kẹo cho các em học sinh – những món quà tuy đơn sơ nhưng lại là niềm vui không nhỏ cho những đứa trẻ thiếu thốn mọi thứ. Cũng qua đợt thăm viếng nhà bè của nhiều em, chúng tôi chợt có ý nghĩa: Tại sao không làm một cuộc quyên góp đồ chơi cũ để chuyển tặng cho các em? Những món đồ chơi không dùng đến ở đây có thể là một nguồn vui to lớn cho những đứa trẻ chưa bao giờ có được, thậm chí thấy được, những món đồ chơi ở xứ văn minh.

Sau buổi phát gạo, chúng tôi đã có dịp thăm hỏi hai Cụ Bà nghèo khó, bệnh tật được người quen đưa đến để nhờ Hội giúp đỡ phần nào. Trước tình cảnh này, chúng tôi đã thay mặt những người có lòng của Hội gửi mỗi Cụ một phần tài chánh như là một sự an ủi, chia sẻ nhỏ đối với hoàn cảnh thương tâm đang có.

Chặng thứ ba: TỈNH PURSAT

Pursat có lẽ mang âm hưởng của chữ “bi đát”, vì hoàn cảnh bà con đồng bào ở đó quá khó khăn, nghiệt ngã.

Thăm trường Việt ngữ ở làng nổi Kor K'ek

Từ Kampong Loeung, đoàn đi ghe máy ca-nô chạy nhanh (chiếc ghe do một thân hữu VDF tài trợ) nhưng phải mất hơn 90 phút mới đến được làng nổi Kor K'ek, nơi có mấy trăm gia đình người Việt đang vật lộn với mặt nước phía Tây Biển Hồ hằng ngày để mưu sinh một cách vất vả.

Khác với làng nổi ở Siem Reap luôn được nhiều người ngoại quốc và Việt Nam đến thăm viếng, giúp đỡ… tập thể người Việt ở đây hoàn toàn trông đợi vào các tay lưới cá. Đánh cá gần như là nghề mưu sinh duy nhất – cá và nước Biển Hồ đã là nguồn sống của các thế hệ nối tiếp nhau.

Trường Kor K'ek quá nhỏ, học sinh quá đông, nhiều em phải ngồi dưới sàn để học.

Tại đây, khi thăm ngôi trường nổi do thân hữu VDF bảo trợ sửa chữa hồi năm trước, chúng tôi không khỏi xót xa khi thấy ngôi trường của hơn 110 em học sinh chỉ có 6 bộ bàn ghế cũ kỷ. Theo lời Thầy giáo Tâm, lớp nào cũng có một số em đến sau phải ngồi chồm hổm dưới sàn để học.

Khi học sinh vào lớp, nước ngập đến sàn (hình trái), khi tan học trường nổi cao lên 6 tấc (hình phải)

Ngày chúng tôi đến thăm, thầy giáo gom hết học sinh lại đón chào. Điều làm chúng tôi không tránh khỏi bàng hoàng là dù số học sinh đến chưa đông đủ nhưng một góc ngôi trường nổi đã chìm dưới mặt nước khoảng một tấc (3 inches). Đến khi tất cả chuyển qua chiếc nhà bè “cộng đồng” thì ngôi trường nổi trở lại bình thường, và đo mặt sàn với mặt nước cách nhau hơn 6 tấc. Điều này không lạ vì ngôi trường nhỏ bé này chỉ đủ sức chứa khoảng 50 học sinh nhưng sĩ số hiện nay là 110 em.

Vì vấn đề này, các phụ huynh nơi đây đã khẩn khoản xin Hiệp Hội giúp cho điều kiện sửa chữa chiếc "bè Cộng đồng" thành một ngôi trường 2 lớp học. Dự án này chắc chắn phải tốn kém hơn 10 ngàn mỹ kim -- một ngân khoản mà Hiệp Hội phải có được hơn 100 người bảo trợ (mỗi người cho $100 mỹ kim) thì mới đủ.  Do vậy, dù rất băn khoăn, áy náy trước tình cảnh tội nghiệp của các em, chúng tôi chỉ có thể hứa là sẽ chuyển thông tin và lời xin trợ giúp này đến bà con ở nước ngoài mà thôi. Chúng tôi còn phải nói thêm là: "Xin đừng vội hy vọng nhiều, khi nào có đủ tiền thì chúng tôi sẽ báo ngay!" Biết đâu hơn trăm em học sinh này sẽ may mắn được nhiều người có lòng quan tâm giúp đỡ để sớm có được một ngôi trường khang trang hơn, đến học một cách an toàn hơn!

Rời làng nổi Kor K'ek chúng tôi tiếp tục xuống ghe máy đi thêm 45 phút để đến Chùa Long Hải ở Rạch Dừng.

Ở đây, gần hai năm trước chúng tôi đã ghé thăm và sau đó đã trợ giúp $1.500 mỹ kim để vị Sư trụ trì Chùa mua ván đóng bàn ghế cho lớp học đang được xây dựng.

Lớp học Chùa Long Hải, với 65 em học sinh đến học vào mùa nước nổi.

Vào tháng 10/2015 nhà văn Tưởng Năng Tiến đã thay mặt Hội đến thăm trường.

Lớp học nay đã tạm ổn nhưng theo vị Sư trụ trì, sự an tâm chỉ có vào mùa nước cao (khoảng 5-6 tháng mỗi năm) vì khi nước bắt đầu rút thì tất cả bè ở làng nổi phải dời ra xa theo mực nước để có thể di chuyển và đánh cá. Theo lời một cư dân, địa điểm neo bè vào mùa khô cách Chùa hơn 5 km. Và vì vậy, các em sẽ không thể đến học trường của Chùa trong mùa nước cạn. Từ lý do đó, Vị Sư trụ trì đã ngỏ lời xin Hội tìm cách giúp cho xin bàn ghế để các em được ngồi học đàng hoàng trong mùa khô, thay vì phải tiếp ngồi chồm hổm dưới sàn cái "bè cộng đồng" để học như đã học trong mấy năm qua. Chi phí trang bị bàn ghế cho 65 em học sinh sẽ không cao như dự án ở Kor K'el song đó cũng là một câu hỏi lớn về mặt tài chánh: Làm sao có đủ tiền để hỗ trợ thêm cho các em ở cái làng nổi xa xôi đìu hiu và nghèo khó này?

Các em học sinh Chùa Long Hải nhận quà và chụp hình kỷ niệm với đoàn trước sân chùa.

Như bao nhiêu lần đi từ hơn mười năm qua, mỗi lần hoàn thành một chuyến công tác từ thiện là mỗi lần chúng tôi rất vui khi được hân hạnh thay mặt những người hảo tâm chuyển lòng nhân ái và sự chia sẻ đến những đồng bào nghèo khó, kém may mắn. Nhưng cũng mỗi lần đó, trong lòng lại căng lên những nỗi lo: Làm sao có thêm tiền để giúp những đồng bào khác đang cần được tiếp trợ?

Song song với nỗi lo âu đó là nỗi ngậm ngùi cho những thân phận đang lưu thân lạc xứ ở quê người: Những người đồng bào này không có nghề nghiệp vững chắc, không tương lai... vì không có căn cước (stateless).

Những nỗi mừng vui, lo âu, ngậm ngùi đó chắc chắn sẽ tiếp tục chi phối chúng tôi -- những người luôn gắn liền tâm trí của mình với hoàn cảnh, tương lai của những đồng bào kém may mắn; trong đó có hàng ngàn đứa trẻ đáng tội nghiệp đã tình cờ gặp gỡ trên con đường vì lòng nhân ái.

Chuyến đi cuối năm 2016 kết thúc một cách bình an và thành công.

Chi phí tổ chức phát gạo miễn phí và giúp đỡ một số người già bệnh kỳ này được thực hiện bởi sự yểm trợ bởi HT. Thích Huyền Việt, TT. Thích Trí Tịnh, TT. Thích Trí Quảng, Bs. Kenneth Nguyễn ở Hoa Kỳ, ông Nguyễn Minh ở Perth, Úc Châu, và một số thân hữu ở Houston, TX.

Chính nhờ những tấm lòng nhân ái từ khắp nơi mà Hiệp Hội đã có được điều kiện để chia sẻ với hàng ngàn đồng bào và trẻ thơ đang cần được an ủi ở Xứ Chùa Tháp Cambodia; và hàng trăm bệnh nhi ung bướu, người tàn tật ở Việt Nam.

Mong sao những tấm lòng nhân ái của ViDan Foundation sẽ tiếp tục cố gắng là ân nhân của những đứa trẻ tội nghiệp chỉ dám mong "được học cho biết chữ" -- biết đọc biết viết chữ Việt để không đánh mất văn hóa Việt, biết đọc biết viết chữ Khmer để không bị người bản xứ khinh dễ là "Đồ dốt chữ!".

Tường trình bởi Nguyễn Công Bằng

www.hoamai.us

VDF' Activity Slideshow

Các Chị trong BTC Buổi Gây Quỹ "Cho Tuổi Thơ Niềm Hy Vọng" tổ chức ngày 11/01/2015 tại hội trường Đài VAN-TV 55.2 ở Houston (Texas)nhằm tạo ngân quỹ bảo trợ các chương trình dạy chữ cho hơn 500 trẻ em gia đình VN nghèo ở Cambodia.

The Interfaith Religious Leaders appease and ditribute gifts to Child Cancer Patients in Saigon. VDF was one of major contributors. Các chức sắc Tôn giáo phát quà cho các bệnh nhi ung bướu ở Chùa Liên Trì - Hình 1 Kể từ năm 2015, Câu lạc bộ Hoa-Mai (tiền thân của ViDan Foundation) đã phối hợp với HT Thích Không Tánh và hội Vietnam Compassion (ở Pháp) để phát quà (mỗi năm 2-3 lần) cho các trẻ em bị bệnh ung bướu, và TPB-VNCH.

The Interfaith Religious Leaders appease and ditribute gifts to Child Cancer Patients in Saigon. VDF was one of the major contributors. Các chức sắc Tôn giáo phát quà cho các bệnh nhi ung bướu ở Chùa Liên Trì - Hình 2 Kể từ năm 2015, Câu lạc bộ Hoa-Mai (tiền thân của ViDan Foundation) đã phối hợp với HT Thích Không Tánh và hội Vietnam Compassion (ở Pháp) để phát quà (mỗi năm 2-3 lần) cho các trẻ em bị bệnh ung bướu, và TPB-VNCH.

Some members of the Fundraising Team at VAN-TV in Houston (Texas) on January 11, 2015 to support educational projects for needy children in Cambodia. Các chị trong Ban Tổ Chức trình diện cử tọa tham dự buổi gây quỹ "Cho Tuổi Thơ Niềm Hy Vọng" Kỳ 2.

Crossing Tonle Sap to visit Vietnamese floating villages in Pursat province (Cambodia) Cảnh đoàn MIRO và ông Nguyễn Công Bằng đi ghe máy vượt Biển Hồ thăm các làng nổi ở tỉnh Pursat

Cảnh học trò trường Samaki tan học về nhà bè

Christine Quỳnh và bà Bích Ngọc góp lời chia sẻ

Christine Quỳnh và Ô.B. Vũ Ban & Bích Ngọc VAN-TV

Cư sĩ Trần Hiến, Christine Quỳnh và Ô.B. Vũ Ban, Bích Ngọc yểm trợ quỹ bảo trợ giáo dục cho trẻ Việt ở Cambodia

Dù đang mang bệnh hiểm nghèo song các em cũng vui khi có quà

Trẻ đùa giởn trên cồn cát và dòng nước ô nhiễm, dơ bẩn khi không còn không gian nào khác hơn.

HT Thích Huyền Việt - người bảo trợ tinh thần cho ViDan Foundation trong nhiều năm qua.

HT Thích Huyền Việt góp lời kêu gọi đồng hương yểm trợ

Lớp Việt Ngữ ở xóm Bãi Cát Neak Loeung

Lớp Việt Ngữ ở xóm Cầu Đá

Một bé gái chơi đùa và cuối xuống uống nước dơ bẩn ở bờ Biển Hồ - một cảnh trạng bình thường ở đây khi hoàn toàn không có một nguồn nước sạch nào khác.

Category: Bài vở
Trường trình: Quảng Yên Nguyễn Công Bằng
Hình ảnh: Tập thể VBTD10

Không kể số lượng người di tản vào thời điểm trước và sau biến cố 30/4/1975, tài liệu của Cao Uỷ ghi nhận có 849.228 người bỏ nước vượt thoát chế độ Cộng sản đã đến các trại tỵ nạn ở 9 nước trong vùng Đông Nam Á. Không ai biết chính xác bao nhiêu ngàn người đã bỏ mình trên đường tìm tự do xuyên qua biển Đông Việt Nam hay các vùng rừng núi Campuchia. Sự hy sinh của những thuyền nhân xấu số đang bị phai nhòa theo thời gian nhưng chắc chắn lịch sử đã ghi nhận mất mát to lớn đó như là một minh chứng hùng hồn nhất cho giá trị của hai chữ TỰ DO ở cuối thế kỷ 20.

Trong hơn ba thập niên qua, nhiều cuốn sách, đoạn phim, câu chuyện đã thể hiện phần nào bao thảm cảnh xảy ra đối với người vượt biển, vượt biên… song lịch sử nhân loại sẽ không thể nào ghi lại hết được những khổ đau, mất mát kinh khiếp đã diễn ra trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.

Chỉ riêng tại Mã Lai Á và Nam Dương, hàng ngàn xác người bất hạnh bỏ mình khi tàu đến bờ biển và bị giông gió đánh chìm, hay bị tử vong khi tàu bị kéo ra biển khơi. Tại Mã Lai Á, vì lý do phong tục và tôn giáo, xác của các thuyền nhân xấu số đã được vớt lên và mai táng chung trong các nghĩa trang người Hoa ở địa phương. Trong đó có rất nhiều ngôi mộ tập thể.

(Từ trái) Mộ tập thể chôn 139 thuyền nhân (MT065), và mộ tập thể chôn 137 thuyền nhân (MT065)

Hai ngôi mộ tập thể lớn nhất ở tiểu bang Terengganu (Mã Lai Á) chôn tổng cộng 276 xác thuyền nhân. Một đặc điểm cần ghi nhận là mộ tập thể từ vài ba người lên đến 139 người (mộ tập thể Cherang Ruku, tiểu bang Kelantan) chỉ có thể tìm thấy tại Mã Lai Á. Tại Phi Luật Tân, Nam Dương và Thái Lan, người ta không tìm thấy dấu vết của bất cứ một ngôi mộ tập thể nào; song điều đó không có nghĩa là không có nhiều người chết trong cùng một vụ đắm tàu.

Hình ảnh một số trong hàng ngàn ngôi mộ đang bị hư hoại

Trên một số hòn đảo từng là bến bờ tự do như đảo Bidong hay quần đảo Anambas... hàng ngàn người bất hạnh khác đã gửi xương cốt vĩnh viễn. Do không có người chăm sóc hàng năm, các nghĩa trang trở nên hoang tàn, nhiều tấm bia đơn sơ đã bị đổ nát, phần lớn các ngôi mộ đấp đất sơ sài đã bị mưa gió soi mòn sau nhiều năm không được chăm sóc.

Trước cảnh tượng đau lòng này, kể từ năm 2005, Văn khố Thuyền Nhân Việt Nam (VKTNVN) cố gắng vận động sự yểm trợ của đồng hương khắp nơi để trùng tu mộ phần thuyền nhân trong các nghĩa trang trên đất liền tại Malaysia.

Một số các nghĩa trang đã được VKTNVN trùng tu trong đất liền Malaysia.

Sau 6 năm với nhiều cố gắng vượt bực và sự đóng góp của đồng bào hải ngoại, chương trình đã trùng tu, lập bia cho hơn 500 mộ trên đất liền (nơi mai táng tổng cộng hơn 1.000 thuyền nhân xấu số). Chương trình cũng đã tìm kiếm được hàng ngàn ngôi mộ khác ở Nam Dương, Mã Lai Á, Phi Luật Tân, v.v...

Theo dự trù, trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2015, VKTNVN sẽ trùng tu lớn cho ngôi mộ tập thể 46 người ở Balai Bachok, và gây quỹ trùng tu nghĩa trang vùng Anambas (khoảng 300 mộ), ở đảo Bidong (khoảng 270 mộ), đảo Galang (503 mộ) và khu vực trại tỵ nạn Bataan ở Phi Luật Tân (khoảng 300 mộ). Năm 2015 sẽ trùng tu những mộ phần mới tìm thấy ở Thailand, Hong Kong hoặc những nơi chưa hoàn  tất kịp trước đó.

Trong chuyến "Về Bến Tự Do 10" được tổ chức từ ngày 12/5 - 2/6/2012, gần 40 cựu thuyền nhân đã có dịp trở lại đảo Galang và Bidong. Mục đích của chuyến đi là tạo điều kiện cho các thuyền nhân thăm viếng nơi chốn đặt những bước chân tự do đầu tiên sau hành trình vượt thoát chế độ CSVN; đồng thời nghiên cứu phương thức trùng tu ngôi mộ các thuyền nhân bất hạnh đã gửi xương cốt lại vĩnh viễn trên các hòn đảo hoang vắng.

Theo sự tổng hợp thông tin từ hồ sơ của Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ, Pulau Bidong là chốn tạm dung của hơn 242 ngàn người tỵ nạn từ năm 1978-1991; trong đó có 433 thuyền nhân đã từ trần và phần lớn được chôn tại đảo. Các ngôi mộ được tập trung ở bốn nghĩa trang ở Khu C, E, F và G.

Khác với mộ phần các thuyền nhân được chôn ở nghĩa trang Galang ở Nam Dương (là nơi được chăm sóc thường xuyên bởi chính quyền bản xứ) mộ phần thuyền nhân ở các nghĩa trang trên đảo Bidong đang đối diện với nguy cơ bị hư hoại nghiêm trọng (vì cho đến nay Bidong vẫn là một đảo không có người định cư).

Hiện tình các nghĩa trang ở Bidong vào tháng 5/2012 được ghi nhận như sau:

       - Nghĩa trang Khu C: Gồm 7 ngôi mộ đắp xi-măng, đã bị nứt nẻ nhiều và hư hoại nặng.

       - Nghĩa trang Khu G: Vừa được tìm thấy trên đồi (tại khu bồn nước khu G) gồm 86 mộ đắp bằng đất với đá tảng chất vòng chung quanh mỗi mộ.

       - Nghĩa trang Khu E: Gồm 15 mộ (do Liên đoàn Phật tử Khuôn Việt lập) được xây sơ sài bằng xi-măng, mai táng ở vùng đất trũng thấp, đang bị hư hoại nặng.

       - Nghĩa trang Khu F: Là nghĩa trang lớn nhất, gồm 159 mộ (theo nội dung ghi trên tấm bia bằng xi-măng), hầu hết chỉ có một tấm bia mộ đúc bằng xi măng và phần lớn đang trong tình trạng hư hoại nặng nề.

Nhìn chung, đại đa số các ngôi mộ đều đang trong tình trạng bị bể nứt, các bia bị nứt, gãy, đổ... toàn bộ mộ phần luôn bị cây rừng và cỏ dại mọc lấn tràn lên các mộ.

Nhu cầu trước mắt cho việc trùng tu ở nghĩa trang Galang là sửa chữa những ngôi mộ đã bị hư hoại, kể cả bia mộ. Do phần lớn mộ được xây bằng xi-măng, việc quét vôi lại toàn bộ để xóa bớt đi dấu vết tàn phá của thời gian cũng là một việc cần thực hiện - nếu như ngân quỹ cho phép. Hy vọng là các thuyền nhân từng ở Galang sẽ gây quỹ hoặc ủng hộ VKTNVN trùng tu khu nghĩa trang này.

Riêng ở đảo Bidong, nhu cầu lớn nhất là lập bia mộ (theo mẫu ở các nghĩa trang đã được VKTNVN trùng tu) để ghi lại thông tin chính xác của từng ngôi mộ; và tìm cách ngăn chận cây rừng, cỏ dại lấn phá các ngôi mộ trong lâu dài. Với hoàn cảnh không thể có điều kiện chăm sóc thường xuyên cho các nghĩa trang ở Bidong, việc trùng tu và có phương cách bảo vệ sự hư hoại bởi thiên nhiên là một thách thức lớn. Dự án này đòi hỏi một ngân sách hàng trăm ngàn mỹ kim, và sự đóng góp công sức của nhiều người. Với con số gần 250 ngàn người vốn đã từng tạm dung ở đảo này, việc góp sức chăm sóc cho hơn 200 ngôi mộ sẽ không phải là một trở ngại nếu như chương trình này nhận được sự quan tâm, ủng hộ của 10% cựu thuyền nhân Bidong.

Về cơ sở vật chất, tất cả đang bị hư hoại nặng nề và có lẽ không tồn tại được thêm bao lâu nữa nếu như không có được một kế hoạch trùng tu đúng mức.

Hiện nay, những khu cư trú ngày nào của 242 ngàn thuyền nhân hầu như đã bị hư hoại hoàn toàn và tất cả đều đã trở thành khu rừng với dầy đặc cây cỏ như chưa từng có người sinh sống qua ở đó.

Di tích còn nhìn thấy được là ở Khu Đồi Tôn Giáo. Cánh Buồm Tự Do là công trình còn đứng vững tương đối tốt nhất.

Tượng Ông Già Bidong, Nhà thờ Công giáo, Chùa Từ Bi, Văn phòng Cao Ủy ở Bidong (5/2012)

Tượng Ông Già Bidong, nơi tôn thờ cầu nguyện của hàng trăm ngàn người mỗi khi đi phỏng vấn hay hồ sơ định cư bị khó khăn, hiện đang sụp đổ. Mảnh lưng rớt ra. Tượng Ông Già và Cô Cháu Gái gẫy làm hai và rớt xuống vì khung sắt đã bị mục nát. Hai cơ sở đang trên đà sập đổ là Nhà Thờ Công Giáo và Chùa Từ Bi. Nhà thờ Tin Lành và Cao Đài đã bị sập và mất dấu hoàn toàn. Các căn nhà của Cao Ủy LHQ chỉ còn lại khung sườn và những mái che đã bị mất nhiều phần. Những ai đã từng một lần trở lại thăm viếng các nghĩa trang thuyền nhân đều không khỏi chạnh lòng và cảm thấy rõ ràng món nợ tình nghĩa chưa thanh thỏa xong với những người bạn đồng hành, đồng cảnh ngày nào.

Công trình mới nhất được xây dựng ở Bidong là cây cầu Jetty, do chính phủ Mã Lai xây dựng với ngân sách 1 triệu Mã kim (RM).

***

May mắn thoát khỏi chế độ độc tài Cộng sản chỉ là bước đầu. Đến được bến bờ tự do là may mắn kế tiếp. Có được đi định cư ở nước thứ ba hay không là một may mắn khác. Và trong quá trình đó, hàng trăm ngàn người bất hạnh đã bỏ mình trên đường vượt thoát hoặc chết tức tưởi ngay trước khi được có cái diễm phúc đặt chân lên bờ bến tự do.

Con số trên một triệu người tiếp tục liều chết tìm tự do trong suốt hai thập niên đã đánh thức lương tâm nhân loại, và trở thành yếu tố thúc đẩy sự thành hình các chương trình định cư nhân đạo dành cho những người có thân nhân ở nước ngoài (ODP), hay đã từng bị tù đày, ngược đãi (H.O.).

Lời tuyên bố của ông Trần Đông: "Quyết không để cho một ngôi mộ nào sẽ chịu cảnh mồ siêu mả lạc..." chứa đựng đầy ắp tâm huyết đáng trân trọng song cũng hứa hẹn nhiều thử thách. Với con số hàng ngàn ngôi mộ cần sửa chữa, hàng ngàn tấm bia cần được thành hình, hàng chục nghĩa trang cần được khai hoang, ngăn chận cây rừng, cỏ dại lấn che... thực tế chắc chắn không đơn giản chỉ đòi hỏi một quyết tâm của người chủ xướng. Chương trình trùng tu hàng ngàn mộ phần thuyền nhân còn lại ở Mã Lai Á, Nam Dương, Phi Luật Tân, Hồng Kông, Thái Lan... cần sự đóng góp nhiệt tình của nhiều nguời để có được một ngân sách khả thi cho dự án.

Một vài bài viết tả thực về hiện tình các nghĩa trang hoang tàn chắc chắn không thể nói lên hết được nhu cầu trùng tu cần có. Những lời kêu gọi dù có hay cách mấy cũng không thể thành hình được ngay ngân quỹ phải có cho dự án... Nguyện ước ý nghĩa này chỉ có thể trở thành hiện thực khi nhận được sự quan tâm, ủng hộ của nhiều người có lòng. Hy vọng sao sự đóng góp của nhiều người sẽ tạo đủ ngân quỹ để những thuyền nhân bất hạnh sớm thoát khỏi cảnh "mồ xiêu mả lạc".

Người viết thành khẩn cầu nguyện hương hồn những đồng bào xấu số đang gửi nắm xương tàn tại các nghĩa trang hoang vu hãy phò trợ cho nỗ lực của Văn khố Thuyền Nhân Việt Nam nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của những người hảo tâm ở khắp nơi, đặc biệt là những người đã từng là Thuyền Nhân hay là thân nhân của những nguời đã được may mắn định cư ở nước thứ ba bằng con đường vượt biển.

Xin cảm ơn ông Trần Đông cùng các đồng hương nhiệt tâm đã khởi xướng các chương trình về lại chốn xưa và tạo điều kiện cho những người hảo tâm có cơ hội chia sẻ phần nào với những người bạn vượt biển bất hạnh.

Kính mời đồng bào xem thêm thông tin ở mạng: www.vktnvn.com và ủng hộ cho các chương trình gây quỹ của Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam.

Chân thành chia sẻ.

Tường trình tại Kulua Lumpur ngày 2/6/2012

Quảng Yên Nguyễn Công Bằng

Thuyền nhân Pulau Bidong (78-79)

 

Copyright (c) The ViDan Foundation, Inc 2014. All rights reserved.
Designed by olwebdesign.com